Tŕnh thuật Sáng Thế và thuyết Tiến hoá

1/11/2017 5:01:54 PM
 
Hỏi: Con rất thích đọc những tŕnh thuật trong sách Sáng Thế. Nhưng ở trường, con nghe giáo sư nói rằng con người do Vượn tiến hoá thành chứ không phải do Thiên Chúa tạo ra như sách Sáng Thế nói. Các bạn con luôn chế giễu con về đức tin của con. Con tin rằng con người được Thiên Chúa tạo dựng. Nhưng liệu có một câu trả lời nào cố gắng dung hoà giữa Kinh Thánh và thuyết tiến hoá không? Làm sao con có thể đối thoại với những người bạn không cùng tôn giáo với con về vấn đề này?

 

Hand_of_God.jpg

 

Trả lời:

 

“Con rất thích đọc những tŕnh thuật trong sách Sáng Thế”. Chúng tôi rất vui khi biết một sinh viên trẻ tuổi như bạn rất thích đọc Kinh Thánh. Câu hỏi mà bạn đặt ra cho chúng tôi ngoài việc xuất phát từ ḷng đạo, chắc hẳn cũng đến từ một tâm hồn khao khát tri thức và mong mỏi hiểu biết chân lư để có thể trao đổi với những người bạn không cùng niềm tin. Xin Chúa chúc lành cho bạn v́ ư hướng tốt này.

 

Về vấn đề của bạn, chúng tôi e rằng ḿnh không đủ sức để giải quyết ngọn ngành mọi khúc mắc vốn đă và đang làm đau đầu những bộ óc tầm cỡ. Tuy nhiên, chúng tôi xin chia sẻ một vài suy tư nhỏ nhoi lượm lặt được, mong là giúp ích được ǵ đó cho bạn.

 

Theo như bạn nói, thuyết tiến hóa của Charles Darwin cho rằng con người do Vượn người tiến hóa mà thành. Người ta gọi đây là “giả thuyết” chứ không phải “chân lư”. Giả thuyết th́ cũng chỉ là giả thuyết, nghĩa là lư thuyết, một giả định, là cái mà ông ta nghĩ như thế. Chẳng ai biết nó có đúng không. Nhưng giả như nó đúng đi chăng nữa th́ cũng chẳng có ǵ mâu thuẫn với tŕnh thuật Sáng Thế v́ nếu Thiên Chúa không tạo điều kiện nội tại và ngoại tại th́ chắc là quá tŕnh tiến hóa này sẽ không thể diễn ra được. Nếu hiểu như thế th́ chính Thiên Chúa cũng dựng nên con người, chứ có ai khác đâu. Con người không thể tự ḿnh dựng nên ḿnh v́ như thế là mâu thuẫn.

 

Khoa học ngày nay đă t́m thấy những bằng chứng khiến người ta bắt đầu nghi ngờ về giả thuyết này. Chẳng hạn, các nhà khảo cổ đă t́m thấy những dụng cụ lao động có niên đại trước khoảng thời gian mà Darwin cho là xuất hiện con người. Vấn đề được đặt ra là: vậy ai là người đă sử dụng những dụng cụ lao động ấy, phải chăng con Vượn đă biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động? Điều này mâu thuẫn với chính học thuyết của ông.

 

Trong phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ về vấn đề của thuyết tiến hoá dưới cái nh́n của triết học. Hăy tưởng tượng cảnh con Vượn người tiến hóa thành con người. Đâu là giây phút đánh dấu khoảnh khắc loài sinh vật kia không c̣n là vượn nữa nhưng đă là người rồi? H́nh thù và các bộ phận trên cơ thể th́ có thể kha khá giống nhau rồi đấy, nhưng yếu tố nào mới khiến cho nó được gọi là người chứ không phải là vượn? Sự biến đổi bên ngoài (bộ phận, h́nh thù, cấu trúc sinh học…) không làm cho con người là một con người theo đúng nghĩa v́ con vượn người ở giai đoạn chuẩn bị trở thành người chắc cũng có y chang những thứ đó. Có chăng là bộ óc con người phức tạp hơn. Nhưng phức tạp đến độ nào th́ trở thành người?

 

Nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ thấy con người và con vượn xét về mặt sinh vật th́ giống nhau nhiều điều, nhưng cung cách hành xử, lối suy nghĩ khác nhau nhiều lắm. Từ trực giác, ta luôn cho rằng mạng sống một con người th́ quư hơn một con vượn. Giết một con vượn có thể tàn nhẫn, nhưng dư luận sẽ không lên án hành vi ấy gay gắt cho bằng giết một con người. Điều đó cho thấy, ai ai cũng thừa nhận con người có phẩm giá cao hơn con vượn. Tại sao vậy? Tại sao con người lại xếp ḿnh ở vị trí trên hết, và xếp những vật c̣n lại thuộc một đẳng cấp thấp hơn? Tại sao con vượn không thể làm như thế? Điều ǵ khiến con người cao quư hơn con vượn? Thuyết tiến hoá đă không trả lời được những câu hỏi này.

 

Từ quan sát của ḿnh, con người thấy rằng con vượn sống theo bản năng sinh tồn của nó; con người cũng lo cho sự sinh tồn của ḿnh nhưng con người có những giá trị cao cả mà nhiều khi v́ những giá trị này, con người sẵn sàng hy sinh bản thân ḿnh. Các nhà triết học c̣n đưa ra một tiêu chí khác nữa giúp phân biệt người với vượn: con vượn th́ chỉ biết kiếm ăn; con người th́ biết là ḿnh biết kiếm ăn; con vượn biết quan sát, con người th́ biết là ḿnh biết quan sát. Cứ cho là con vượn biết suy nghĩ đi, nhưng nó không biết là nó đang suy nghĩ, c̣n con người th́ biết suy nghĩ nhưng cũng biết là ḿnh biết suy nghĩ. V́ thế, con vượn không có ư thức về ḿnh, c̣n con người th́ có ư thức về ḿnh. Điều này làm nên sự khác biệt giữa hai loài.

 

Chắc chắn có một lằn ranh, một khoảnh khắc nào đó mà từ đó trở đi, bộ óc con vượn bỗng dưng chuyển từ “biết suy nghĩ” sang việc “biết ḿnh biết suy nghĩ”, chuyển từ “không ư thức về ḿnh” sang “có ư thức về ḿnh”. Con Vượn không thể tự ban cho ḿnh khả năng chuyển đổi này. Cũng không có một giống loài nào dưới gầm trời có quyền năng này, v́ sự chuyển biến này không c̣n thuộc về vật chất nữa, nhưng đă chuyển sang phi vật chất (ư thức) rồi. Thuyết tiến hoá cũng không thể giải thích được sự ư thức này từ đâu mà đến. Vật chất th́ chỉ có thể dừng lại ở cấp độ vật chất chứ không thể đi xa hơn.

 

Bởi vậy, một sự chuyển hoá ở cấp độ ư thức như thế chỉ có thể xảy ra khi có sự can thiệp của một Cái Ǵ Đó không thuộc về vật chất nhưng là Tinh Thần Thuần Tuư (Thiên Chúa). Khoảnh khắc biến chuyển ấy là khoảnh khắc thật mầu nhiệm. Kinh Thánh mô tả khoảnh khắc đó bằng một h́nh ảnh thật gần gũi: Thiên Chúa “thổi hơi vào phần đất mà ngài nắn thành” (St 2,7). Thật ra, tất cả các loài đều có “dáng dấp” của Thiên Chúa v́ đều từ Chúa mà ra, nhưng chỉ có con người là có “h́nh ảnh” Thiên Chúa v́ con người được hưởng “hơi Thần Khí” mà Thiên Chúa thổi vào. Nhờ đó mà con người tự xếp ḿnh ở vị trí cao hơn tất cả mọi loài khác. Con người thuộc về một phẩm trật khác với những loài c̣n lại. Như thế, xét cho cùng, cũng phải có sự can thiệp của Thiên Chúa th́ loài sinh vật tên là “con người” mới xuất hiện.

 

Việc đối thoại với anh chị em có tư tưởng ngộ nhận trong việc hiểu biết Kinh Thánh sẽ là rất khó khăn nếu họ đă không muốn khiêm nhường, lắng nghe và trao đổi. Kinh nghiệm cho thấy những người chối bỏ và không mở ḷng ra thường là những người chưa t́m hiểu cặn kẽ. C̣n những người có ḷng khao khát thật sự đều nghiệm thấy những chân lư chứa đựng trong Kinh Thánh. Rất nhiều các nhà khoa học, thiên tài trong lịch sử nhân loại là những người đă tin vào Thiên Chúa. Bởi thế, có đôi khi chúng ta không cần mất công tranh căi với những người cố chấp v́ nếu họ đă không muốn tin, có nói thế nào họ cũng không tin. Có đôi khi, họ chỉ bề ngoài chối bỏ thôi chứ trong ḷng vẫn tin có một Đấng tuyệt đối. Hăy cứ bao dung và kiên nhẫn với họ. Nếu lư thuyết không khiến họ tin vào Chúa th́ gương tốt của ḿnh sẽ là lời chứng thuyết phục họ.

 

Điều này th́ phải trông đợi ở những nỗ lực của chúng ta mà thôi!

 

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
(dongten.net 11.01.2017)